.::. Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, hiệp hội, cơ sở hành chính, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn .::. .............................................................................................................................................................................................................. ........................................  

Tháng 10/2016, giá các loại hàng hóa tiêu dùng trên địa bàn tỉnh có biến động tăng làm cho CPI tháng 10 tăng 0,15% so với tháng trước. So bình quân cùng kỳ tăng 1,52%; so tháng 12 năm trước tăng 2,24% và tăng 2,22% so cùng tháng năm trước. Hàng hóa tiêu dùng đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân.

CPI tháng10 tăng chủ yếu do:

- Giá lương thực, thực phẩm chính yếu tăng như: gạo tẻ, gạo nếp, trứng các loại, ngan vịt, thủy sản tươi sống khác;

- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng ở mặt hàng vải may quần áo ( vải kaki dày may quần, vải pha len);

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng ở mặt hàng sắt xây dựng, tăng 100đ/kg. Từ 1/10/2016 giá gas được điều chỉnh tăng 1.250đ/kg tương đương 15.000đ/bình 12kg (bao gồm thuế giá trị gia tăng VAT).  Như vậy, sau khi tăng giá 6.000 đồng/bình 12 kg vào tháng 9, giá gas tiếp tục tăng trong tháng 10 này.

- Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào các ngày 20/9; 5/10 và 20/10/2016. Đây là lần thứ 5 liên tiếp mặt hàng này tăng từ giữa tháng 8-2016 đến nay. Giá xăng dầu tăng đã làm cho nhóm giao thông tăng 2,15%, đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn tỉnh tăng. Các nhóm còn lại giá tương đối ổn định và biến động nhẹ.

Diễn biến giá của các nhóm hàng chính trong tháng 10 năm 2016 như sau:

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống ( -0,34%)

Chỉ số chung của nhóm trong tháng giảm 0,34% so với tháng trước và tăng 1,34% so với cùng tháng năm trước. Trong tháng, nhóm hàng thực phẩm có giá giảm như: thịt lợn, gà ta, cá tươi, rau, quả tươi các loại... đã kéo chỉ số chung của nhóm giảm. Cụ thể giá một số các nhóm hàng như sau:

- Lương thực (+0,17%)

 Giá hàng lương thực tiếp tục tăng. Trong tháng tình hình xuất khẩu, tiêu thụ gạo của Việt Nam đã có chuyển biến tốt hơn, thời gian gần đây, thị trường xuất khẩu lúa gạo Việt Nam  đã trúng thầu 150.000 tấn gạo xuất khẩu sang Philipine nên giá lúa gạo trong nước có tăng, tuy nhiên mức tăng khá nhẹ do lượng cung trong nước dồi dào.

- Thực phẩm (-0,53%)

 Giá thực phẩm trong tháng giảm do giá một số hàng giảm như:

+ Thịt gia súc tươi sống giảm 0,14%, trong đó mặt hàng thịt lợn giảm 0,17%. Giá thịt lợn giảm do giá lợn hơi tại địa phương giảm từ 2.000 đến 4.000đ/kg.

+ Thịt gia cầm tươi sống giảm 1,05%, trong đó mặt hàng gà ta giảm 2,5%, gà công nghiệp giảm 2,91%, đùi gà công nghiệp giảm 0,45%. Chăn nuôi gà vịt thả vườn theo hướng công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ, tại một số vùng của địa phương chăn nuôi gà thả vườn đang là giải pháp làm giàu của nông dân nên lượng cung ra các chợ dồi dào, giá giảm.

+ Nhóm thủy sản tươi sống giảm 1,52% tại hầu hết các chợ trên địa bàn. Trong đó mặt hàng giảm chủ yếu là cá tươi các loại -1,82%; tôm đồng - 0,80%. Tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển ổn định; nhiều hộ  đã chuyển dần từ hình thức nuôi quảng canh cải tiến sang hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh với nhiều giống mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao, giá cả phù hợp với nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân.

+ Các loại đậu và hạt giảm 0,34%, trong đó mặt hàng vừng mè -0,88%, lạc nhân -0,31% so với tháng trước, do lượng vừng mè tại các tỉnh miền trong chuyển ra với số lượng lớn.

+ Nhóm rau tươi, khô và chế biến trong tháng đã giảm 2,39% so với tháng trước. Giá rau trong tháng giảm do thời tiết thuận lợi thích hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Một số loại rau, củ vào chính vụ, nguồn cung cấp dồi dào như: dưa chuột, củ cải, cà rốt, măng tươi, rau cải ngọt, cải be muối dưa, hành lá... đều giảm từ 4,77% đến 29,21%.

+ Nhóm quả tươi, chế biến giảm 2,83%, do đang vào chính vụ thu hoạch, lượng cung nhiều một số loại quả có giá giảm như: chuối, đu đủ, thanh long, táo, xoài,...

Bên cạnh những nhóm hàng giảm, nhóm hàng có mức giá tăng như:

+ Giá trứng các loại tuy đã có chiều hướng giảm trong những ngày gần đây nhưng vẫn tăng 0,27% so với tháng trước.  Giá trứng tăng do lượng trứng bán ra tại các chợ giảm, giá bán tăng.

 2. May mặc, mũ nón, giày dép (+0,07%)

Trong tháng, nhóm hàng may mặc cũng nằm trong xu hướng tăng chung của các nhóm hàng. Thời tiết chớm lạnh nhu cầu may mặc quần áo của người dân tăng nên giá thành có biến động tăng nhẹ.

3. Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+0,41%)

Chỉ số giá các mặt hàng trong nhóm như sau:

+ Chỉ số vật liệu, bảo dưỡng nhà ở tăng 0,23%. Trong đó mặt hàng sắt tăng từ 0,73% đến 0,88%, sơn tường các loại tăng từ 0,26% đến 0,56% do chi phí vận chuyển tăng.

+ Từ 1/10/2016 giá gas trên địa bàn được điều chỉnh tăng 15.000đ/bình 12kg. Do giá gas thế gới tháng 10/2016 công bố 355 USD/tấn, tăng 47,5 USD/tấn so với tháng 9/2016. Với mức giá bán lẻ  đến tay người tiêu dùng hiện nay tại địa bàn  ở mức trung bình khoảng 287.000 - 292.000 đồng đối với bình 12kg.

+ Giá dầu hỏa bình quân tháng 10 tăng 3,30% so với tháng trước do điều chỉnh tăng của tập đoàn xăng dầu Việt Nam.

+ Trong tháng thời tiết đã mát mẻ hơn, nhu cầu sử dụng các thiết bị làm mát của người dân giảm làm cho chỉ số giá điện giảm (-0,27%).

4. Giao thông (+2,15%)

 Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng 03 đợt, vào các ngày 20/9, 5/10 và 20/10/2016 đã kéo chỉ số nhóm nhiên liệu tăng 4,20%, góp phần vào sự tăng chung của nhóm.

5. Văn hóa, giải trí và du lịch (-0,15%)

Thực hiện chương trình xả hàng cuối năm nhằm giảm bớt lượng hàng tồn kho, thu hồi vốn kinh doanh. Các siêu thị điện máy trên địa bàn áp dụng các chương trình giảm giá với nhiều loại mặt hàng, trong đó mặt hàng ti vi màu các loại giảm từ 0,48% đến 1,08%.

Chỉ số nhóm hoa, cây cảnh giảm 1,75%. Do trong tháng thời tiết thuận lợi cho cây hoa sinh trưởng và phát triển, lượng hoa bán tại các chợ nhiều nên giá giảm.

6. Giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trên địa bàn tỉnh giảm khá, chỉ số giá trong tháng giảm 1,84% so với tháng trước. Giá vàng bình quân trên thị trường tự do là 3.469 nghìn đồng/chỉ. Ngược chiều với giá vàng, giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do biến động tăng nhẹ 0,14% so với tháng trước; Giá bán bình quân phổ biến ở mức 21.563 đồng/USD.

Một số nhóm hàng còn lại giá tương đối ổn định.

Tóm lại: Tháng 10  năm 2016, thị trường hàng tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ổn định, giá các mặt hàng không có biến động nhiều, nguồn cung hàng hóa dồi dào đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Điều này cho thấy công tác điều hành, quản lý của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả cao. Dự tính CPI tháng 11//2016 thị trường hàng tiêu dùng tiếp tục tăng./.

Biểu tổng hợp số liệ Chỉ số giá tháng 10 năm 2016

 

luat_sua_doi_ltk

Đang truy cập: 55
Trong ngày: 483
Trong tuần: 1185
Lượt truy cập: 1817939

Xin cho biết ý kiến của bạn về trang thông tin điện tử Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc?
Tốt
Khá
Trung bình
Kém

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH VĨNH PHÚCChung nhan Tin Nhiem Mang

Địa chỉ: Số 20

Lý Thái Tổ - Phường Đống Đa - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc

Điện thoại: 0211 3 861 139, Fax: 0211 3 843 841Email: vinhphuc@gso.gov.vn, cuctk@vinhphuc.gov.vn