.::. Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, hiệp hội, cơ sở hành chính, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn .::. .............................................................................................................................................................................................................. .::. Tích cực hưởng ứng cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2021 là góp phần xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và địa phương .::. ..............................................................................................................................................................................................................  

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Số liệu thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022

Năm 2022, cùng với cả nước, tỉnh Vĩnh Phúc triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới phải đối mặt với những căng thẳng địa chính trị, lạm phát gia tăng, gián đoạn nguồn cung năng lượng cùng các vấn đề về biến đổi khí hậu. Ở trong nước và trên địa bàn tỉnh, dịch Covid-19 diễn ra phức tạp vào ngay sau thời điểm Tết Nguyên đán; giá cả các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất, vật liệu xây dựng tăng cao; thời tiết diễn biến bất thường với những đợt rét đậm, rét hại, mưa lớn kéo dài gây ngập úng cục bộ tại một số địa phương... đã tác động không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế. Song, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, tỉnh Vĩnh Phúc đã kịp thời triển khai thực hiện nhiều nhóm giải pháp đồng bộ để nhanh chóng khắc phục các khó khăn, đồng thời thực hiện hiệu quả “Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ”. Nhờ vậy, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục có bước phát triển khá. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản duy trì ổn định; sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh; các ngành dịch vụ phục hồi mạnh mẽ; an sinh xã hội được bảo đảm; an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh

1.1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh

Vượt qua những khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và những tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2022 đạt mức tăng khá, ước tăng 9,54% so với năm trước, cao nhất trong giai đoạn 2014-2022, đứng thứ 5 vùng Đồng bằng Sông Hồng và thứ 17 cả nước về tốc độ tăng GRDP. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 0,23%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,41%, khu vực dịch vụ tăng 9,61%.

- Tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản: Giá trị tăng thêm (GTTT) khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 0,23% so với cùng kỳ, chủ yếu đóng góp từ ngành chăn nuôi. Năm 2022, ngành sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tuy gặp khó khăn về giá thức ăn tăng cao, giá bán một số sản phẩm thấp, đặc biệt là chăn nuôi lợn … song tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng và các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu khác đều tăng so khá với cùng kỳ: Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,74%, trong đó thịt lợn hơi tăng 5,52%; thịt gia cầm hơi tăng 4,34%; sản lượng trứng gia cầm tăng 7,72%; sản lượng sữa bò tăng 13,45%. Tăng trưởng ngành chăn nuôi tăng 5,60%, đóng góp 0,16 điểm % vào tăng trưởng chung. Ngành trồng trọt do ảnh hưởng thời tiết diễn biến bất thường: rét đậm, rét hại ở vụ Đông, mưa lớn cuối tháng 5 ở vụ Xuân đã gây thiệt hại nặng cho ngành trồng trọt. Năng suất, sản lượng thu hoạch của các loại cây trồng cả năm đều giảm so với cùng kỳ. Giá trị tăng thêm ngành trồng trọt giảm 8,95%, làm giảm 0,17 điểm % tăng trưởng chung của tỉnh.

Các ngành lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục sản xuất ổn định, giá trị tăng thêm năm 2022 đạt mức tăng lần lượt là 3,23% và 2,03% đóng góp 0,01 điểm % vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

- Tăng trưởng khu vực công nghiệp - xây dựng: GTTT khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 13,41%, đóng góp 6,54 điểm % vào tăng trưởng của tỉnh, là mức tăng cao thứ hai trong giai đoạn 2012-2022. Trong đó, công nghiệp tăng 14,37%, đóng góp 6,21 điểm %.

Trong công nghiệp, ngành sản xuất linh kiện điện tử trên địa bàn tiếp tục duy trì mức tăng khá, GTTT của ngành tăng 23,08%, đóng góp 4,36 điểm % vào tốc độ tăng GRDP của tỉnh. Ngành sản xuất ô tô mặc dù gặp khó khăn trong quý III do tình trạng thiếu hụt chip bán dẫn trên toàn cầu nhưng sang quý IV, tình hình được khắc phục, cùng với đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm đã sôi động hơn do nhu cầu tiêu thụ tăng cao dịp cuối năm. Giá trị tăng thêm của ngành sản xuất ô tô năm 2022 tăng 5,06%, đóng góp 0,21 điểm % vào mức tăng GRDP. Ngành sản xuất xe máy tăng 15,63%, đóng góp 1,41 điểm % vào mức tăng GRDP. Sản lượng xe máy tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái, do Honda và Piaggio là 2 doanh nghiệp sản xuất xe máy chủ lực của tỉnh đã chủ động nghiên cứu và đưa ra thị trường các dòng sản phẩm mới với nhiều cải tiến vượt trội, tiêu thụ tốt. Các ngành công nghiệp còn lại ổn định.

Ngành xây dựng: Sự biến động lớn về giá xăng dầu, giá vật liệu xây dựng, chi phí nhân công trong thời gian qua đã làm tăng chi phí đầu tư xây dựng, gây khó khăn cho nhà thầu và chủ đầu tư, đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công xây lắp của một số công trình, dự án. Tuy nhiên, tỉnh đã tập trung, quyết liệt trong chỉ đạo xử lý, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn, đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Các chủ đầu tư và đơn vị thi công đã tập trung nhân lực, phương tiện máy móc để đẩy nhanh tiến độ thi công nhất là các dự án trọng điểm. GTTT ngành xây dựng năm 2022 tăng 5,96% so năm trước, đóng góp 0,33 điểm % tăng trưởng GRDP của tỉnh.

- Tăng trưởng khu vực dịch vụ: Trong quý I/2022, các lĩnh vực dịch vụ gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, trong đó đặc biệt là kinh doanh ăn uống, du lịch lữ hành, vận tải,… Từ quý II, các hoạt động trở lại bình thường và ổn định, hoạt động du lịch, vui chơi giải trí được nhiều người dân tham gia; số lượt khách đến nhà hàng, trung tâm mua sắm, các điểm bán lẻ, địa điểm vui chơi đã dần trở lại tạo điều kiện cho hoạt động dịch vụ phục hồi và tăng trưởng. GTTT ngành dịch vụ đạt mức tăng 9,61%, đóng góp 1,92 điểm % vào mức tăng GRDP, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Trong đó tăng trưởng của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã đóng góp vào tốc độ tăng tổng GTTT nền kinh tế, cụ thể: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 13,50% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,73 điểm % vào mức tăng GRDP; ngành vận tải kho bãi tăng 17,50%, đóng góp 0,26 điểm %; Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 17,62%, đóng góp 0,17 điểm %; Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,04%, đóng góp 0,19 điểm %; Thông tin và truyền thông tăng 8,89%, đóng góp 0,18 điểm %.

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp: Thuế sản phẩm năm 2022 tăng 4,18% so với cùng kỳ, đóng góp vào mức tăng GRDP của tỉnh là 1,07 điểm %. Chính sách giảm thuế mới với mức thuế suất thuế GTGT giảm từ 10% xuống còn 8% đã ảnh hưởng tới thu ngân sách và tác động tới tốc độ tăng thuế sản phẩm trong GRDP tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển, một số ngành sản xuất chủ lực vẫn đạt mức tăng trưởng khá so với năm trước như sản xuất ô tô, xe máy, sản xuất linh kiện điện tử... nên đã đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách của tỉnh.

1.2. Quy mô, cơ cấu kinh tế

Quy mô GRDP tỉnh Vĩnh Phúc năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 153,12 nghìn tỷ đồng, tăng 15,78 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 11,49% so với năm 2021. Quy mô kinh tế của Vĩnh Phúc đứng thứ 6 Vùng Đồng Bằng Sông Hồng và đứng thứ 14 cả nước.

Quy mô GRDP bình quân đầu người ước đạt 127,85 triệu đồng/người, tăng 12,62 triệu đồng/người, tương đương tăng 10,95% so với năm 2021, đứng thứ 5 vùng Đồng bằng Sông Hồng và tiếp tục duy trì vị trí thứ 9 cả nước về GRDP bình quân đầu người.

Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch tích cực, đúng định hướng. Năm 2022, tỷ trọng GTTT khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 48,99% trong GRDP theo giá hiện hành; khu vực dịch vụ chiếm 21,83%; khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 5,21%; thuế sản phẩm chiếm 23,97% (Cơ cấu năm 2021 tương ứng là: 47,29%; 21,82%; 5,84%; 25,05%).

2.Tình hình sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực kinh tế

2.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Năm 2022, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết diễn biến bất thường: rét đậm, rét hại ở vụ Đông, mưa lớn cuối tháng 5 ở vụ Xuân đã gây thiệt hại nặng cho ngành trồng trọt. Năng suất, sản lượng thu hoạch của các loại cây trồng cả năm đều giảm so với cùng kỳ. Ngành chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát tốt. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng và các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ.

-  Sản xuất nông nghiệp: Diện tích gieo trồng cây hằng năm của toàn tỉnh tiếp tục xu hướng giảm do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng có mức giảm thấp nhất kể từ năm 2016. Cơ cấu diện tích của một số cây trồng chính có sự thay đổi theo hướng giảm diện tích lúa, tăng diện tích ngô, rau, đậu các loại và hoa. Năm 2022 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 85,67 nghìn ha, giảm 0,02% (giảm 15,99 ha) so với năm trước. Trong đó, cây lúa tiếp tục là cây trồng chủ lực của tỉnh với diện tích đạt 53,08 nghìn ha, chiếm 61,96% tổng diện tích gieo trồng.

Sơ bộ năng suất, sản lượng một số cây trồng chính như sau: Năng suất lúa đạt 53,24 tạ/ha, giảm 11,01% so với năm 2021, sản lượng đạt 282,6 nghìn tấn, giảm 11,94%; ngô đạt 45,83 tạ/ha, giảm 5,07%, sản lượng đạt 43,9 nghìn tấn, giảm 1,02%; khoai lang đạt 116,19 tạ/ha, giảm 1,81%, sản lượng đạt 19,7 nghìn tấn, giảm 6,31%; rau các loại đạt 193,61 tạ/ha, giảm 14,21%, sản lượng đạt 204,9 nghìn tấn, giảm 13,81% so với năm 2021...

Tính đến thời điểm cuối tháng 12/2022, số lượng đàn gia súc, gia cầm ước đạt: Đàn trâu có 17,2 nghìn con, giảm 2,85% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò 97,8 nghìn con, giảm 0,05%, riêng đàn bò sữa 16,7 nghìn con, tăng 4,96%; đàn lợn (không bao gồm lợn con theo mẹ) 492,9 nghìn con, tăng 3,4%; đàn gia cầm 12,25 triệu con, tăng 0,23%. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2022 đạt 125,85 nghìn tấn, tăng 4,74% so với cùng kỳ. Ngoài sản lượng thịt trâu, bò hơi giảm 1,43%, các sản phẩm chăn nuôi khác đều tăng khá: thịt lợn đạt 79,75 nghìn tấn, tăng 5,52%; thịt gia cầm đạt 39,04 nghìn tấn, tăng 4,34%; sản lượng trứng gia cầm đạt 670,21 triệu quả, tăng 7,72%; sản lượng sữa bò tươi đạt 54,5 nghìn tấn, tăng 13,45%.

- Sản xuất lâm nghiệp và thủy sản ổn định, sản lượng gỗ khai thác và sản lượng thủy sản đều tăng so với năm 2021: Sản lượng gỗ khai thác năm 2022 đạt 47,11 nghìn m3­­­­, tăng 4,01%; trồng mới 700 ha rừng tập trung, 624,8 nghìn cây phân tán. Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 6.473,4 ha, giảm 0,13%; tổng sản lượng thủy sản ước đạt 24,02 nghìn tấn, tăng 1,57%, trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 22,13 nghìn tấn, tăng 1,7% so với năm trước.

2.2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh các tháng năm 2022 liên tục ghi nhận mức tăng trưởng 2 con số, là điểm sáng đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng chung của tỉnh. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn đã chủ động thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng thiếu nguyên vật liệu sản xuất do đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào; xây dựng kế hoạch sản xuất hợp lý; vận hành ổn định, hiệu quả, tối ưu công suất nhà máy...Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh năm 2022 tăng 15,83% so vi cùng k, cao nhất kể từ năm 2019 trở lại đây.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, có 18/24 ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, 6/24 ngành có chỉ số sản xuất giảm. Một số ngành công nghiệp chủ lực vẫn duy trì tốc độ tăng khá, phát huy vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp của tỉnh: sản xuất linh kiện điện tử tăng 21,9%; sản xuất xe máy tăng 16,52%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 12,23%; dệt tăng 8,94%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 4,11%... Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: khai khoáng khác giảm 40,34%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 4,34%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 7,5%; sản xuất kim loại giảm 5,75%; chế biến chế tạo khác giảm 0,9% so với cùng kỳ,...

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2022 tăng 10,11% so với năm trước. Chỉ số tồn kho giảm 32,27% so với cùng thời điểm năm 2021.

2.3. Hoạt động của doanh nghiệp

Tính đến ngày 15/12/2022, toàn tỉnh có 1.317 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 21.530 tỷ đồng, tăng 12,66% về số doanh nghiệp, tăng 74,51% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 392 doanh nghiệp, tăng 15,98%. Trung bình mỗi tháng có 142 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể trong kỳ là 631 doanh nghiệp, tăng 22,29% so với cùng kỳ. Trung bình mỗi tháng có 52 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

2.4. Thương mại, dịch vụ

Năm 2022, hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát tốt trên địa bàn nhất là trong 6 tháng cuối năm,  hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh phục hồi tích cực và có sự tăng trưởng ở hầu hết các lĩnh vực. Doanh thu các ngành thương mại, dịch vụ, vận tải đạt kết quả tăng cao so với năm trước, hàng hoá trên thị trường tiêu dùng đa dạng, dồi dào, hoạt động vận tải đảm bảo thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu của Nhân dân.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Ước tính cả năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng đạt 67,02 nghìn tỷ đồng, tăng 20,96% so với năm trước. Trong đó:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 59,64 nghìn tỷ đồng, chiếm 88,98% tổng mức, tăng 20,86% so với năm 2021. Doanh thu tăng ở tất cả 12 nhóm hàng, trong đó tăng cao nhất ở nhóm hàng xăng dầu tăng 91,77%; nhóm hàng may mặc ước tăng 37,17%; ô tô các loại tăng 34,75%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 29,72%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 17,71%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 4,77 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,12% tổng mức, tăng 25,11% so với năm 2021. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 57,26%; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 20,15%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 296,96%. Với việc kiểm soát thành công đại dịch Covid-19, trong năm 2022, du lịch Vĩnh Phúc đã phục hồi mạnh mẽ và đạt được những kết quả ấn tượng.

 Doanh thu các ngành dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 2,61 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,9% tổng mức và tăng 16,07% so với năm trước.

Hoạt động vận tải:  Năm 2022, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh có sự tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nhất là từ quý Hai, khi dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát tốt tại tỉnh và trong cả nước. Ước tính, doanh thu hoạt động vận tải đạt 4,97 nghìn tỷ đồng, tăng 35,38% so với năm 2021. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 911,3 tỷ đồng, tăng 94,59%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.91 nghìn tỷ đồng, tăng 25,17%. Tổng khối lượng luân chuyển hành khách năm 2022 ước đạt 1.170,2 triệu HK.km, tăng 65,18%; tổng khối lượng luân chuyển hàng hóa ước đạt 2.849,5 triệu tấn.km, tăng 27,69% so với cùng kỳ.

Xuất nhập khẩu hàng hóa: Theo số liệu báo cáo của Chi cục Hải quan tỉnh Vĩnh Phúc, tính đến ngày 15/12/2022, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 14,98 tỷ USD, tăng 21,09%; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 13,7 tỷ USD, tăng 16,42% so với cùng kỳ. Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử chiếm chủ yếu trong cơ cấu kim ngành xuất, nhập khẩu hàng hóa tại Hải quan Vĩnh Phúc, với tỷ lệ 52,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 14,4%; và 50,7% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 22,02% so với năm trước.

3. CÁC CHỈ TIÊU VỀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

3.1. Thu, chi ngân sách

- Thu, chi ngân sách nhà nước: Năm 2022, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng khá, tác động tích cực đến nguồn thu ngân sách của tỉnh. Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước tính đến 15/12/2022, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 36,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,45% so với cùng kỳ, vượt 13,10% so với dự toán đầu năm, là mức thu cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, thu nội địa đạt 29,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14,80%. Thu ngân sách chủ yếu tăng thu từ khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (chiếm 74,54% thu nội địa) tăng 30,07% so với cùng kỳ; thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng đóng góp mức tăng là 8,26%. Thu hải quan đạt 6,5 nghìn tỷ đồng, tăng 40,74% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách nhà nước đến ngày 15/12/2022 đạt 20,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,42% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển (bao gồm cả tạm ứng) đạt 11,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,42%; chi thường xuyên đạt 9,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,71% so với cùng kỳ. Nhìn chung, công tác quản lý chi ngân sách đã được tăng cường, kiểm soát chi chặt chẽ, quản lý chi theo dự toán, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhưng vẫn bảo đảm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

3.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm

- Hoạt động ngân hàng, tín dụng: Tổng dư nợ cho vay đến 31/12/2022 ước đạt 117,5 nghìn tỷ đồng, tăng 15,15% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 84,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,33%; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 33,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,68%. Tổng nguồn vốn huy động dự kiến đến 31/12/2022 ước đạt 108 nghìn tỷ đồng, tăng 12,10% so với cuối năm 2021. Với việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động và đa dạng hình thức gửi tiết kiệm tại một số ngân hàng thương mại trong thời gian qua đã thu hút không nhỏ lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư quay trở lại hệ thống ngân hàng.

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên địa bàn có xu hướng tăng so với cuối năm 2021: Lãi suất tiền gửi bình quân tăng 0,52%/năm, lãi suất cho vay bình quân tăng khoảng 0,4%/năm, chủ yếu do nhu cầu tín dụng tăng cao nhằm đáp ứng cho tăng trưởng kinh tế phục hồi trở lại.

- Bảo hiểm: Thị trường lao động việc làm trên địa bàn tỉnh có sự hồi phục và phát triển trong nửa cuối năm 2022, tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT). Ước tính đến 31/12/2022, toàn tỉnh có 268,5 nghìn người tham gia BHXH (bao gồm: BHXH bắt buộc: 248,5 nghìn người; BHXH tự nguyện: 20 nghìn người); tham gia BH thất nghiệp có 240,7 nghìn người; tham gia BHYT có 1,13 triệu người.

3.3. Hoạt động đầu tư

Nhận định hoạt động đầu tư tiếp tục đóng vai trò là nhân tố chính dẫn dắt tăng trưởng kinh tế; công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh được xác định là một trong các nhiệm vụ quan trọng góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư. Đồng thời, UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các sở, ngành và địa phương triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt trong công tác giải ngân vốn đầu tư công­­ nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp, tổ chức, nhà đầu tư, góp phần kích cầu đầu tư xã hội, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2022 ước đạt 50,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,09% so với năm 2021, tăng cao nhất là khu vực vốn Nhà nước, ước đạt 9,1 nghìn tỷ đồng, tăng 18,13%, đạt 82,51% kế hoạch năm 2022. Vốn đầu tư thực hiện khu vực ngoài Nhà nước ước đạt 19,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,85%, trong đó, vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và vốn đầu tư cho xây dựng nhà ở của hộ dân cư ước đạt 17,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21,04% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện khu vực FDI ước đạt 22,1 nghìn tỷ đồng, giảm nhẹ 0,50% so với năm 2021.

- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp trên địa bàn tỉnh năm 2022 có sự phát triển về số vốn đăng ký mới ở khu vực đầu tư trong nước (DDI) và vốn đăng ký điều chỉnh ở khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Theo số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc đến ngày 15/12/2022, tỉnh đã thu hút được 28 dự án DDI với tổng vốn đăng ký đạt 12,4 nghìn tỷ đồng, bằng 56,65% so với cùng kỳ nhưng vượt 17,82% kế hoạch đề ra. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút được 70 dự án FDI (31 dự án cấp mới, 39 dự án điều chỉnh vốn) với tổng vốn đăng ký đạt 462,10 triệu USD, bằng 45,09% so với cùng kỳ, vượt 2,69% kế hoạch năm.

3.4. Chỉ số giá

Năm 2022, CPI bình quân tăng 4,45% so với năm trước, là năm tăng cao nhất trong giai đoạn 2018-2022. Trong đó, nhóm giáo dục với mức tăng 16,37%, tác động làm CPI tăng 1,06 điểm % do mức thu học phí năm học 2022-2023 được điều chỉnh tăng cao. Giá xăng dầu đã lập đỉnh trong 6 tháng đầu năm và có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm nhưng tính chung cả năm giá xăng vẫn duy trì ở mức cao, tăng 24,24% so với cùng kỳ, tác động làm CPI tăng 0,82 điểm %. Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 11,38%, do giá nguyên vật liệu chế biến và nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng, làm cho nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,08%, tác động làm CPI chung tăng 0,73 điểm %. Giá các loại vật liệu xây dựng trong năm tăng 9,54%, tác động làm CPI chung tăng 0,19 điểm %. Ở chiều ngược lại, giá các loại thịt gia súc giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 5,49%), chủ yếu giảm ở nhóm thịt lợn và giảm sâu hơn ở các tháng đầu năm, đã tác động làm CPI chung giảm 0,33 điểm%.

Giá vàng và Đô la Mỹ: Tháng 12/2022, chỉ số giá vàng tăng 0,82% so với tháng trước, giá vàng bình quân là 5.506 nghìn đồng/chỉ. Giá Đô la Mỹ trên thị trường tự do giảm 0,33% so với tháng trước, giá bán bình quân là 24.340 đồng/USD. Bình quân cả năm 2022, chỉ số giá vàng tăng 0,38%, chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 1,79 % so với cùng kỳ năm trước.

4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Năm 2022, dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát, đã tạo bước đà quan trọng để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; các hoạt động văn hóa, thể thao trở lại bình thường. Tuy nhiên, giá cả một số hàng hóa đầu vào tăng cao, nhất là giá xăng dầu đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống người dân trên địa bàn. Trong bối cảnh đó, để góp phần ổn định và nâng cao đời sống Nhân dân, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai và thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội, nhiều chế độ, chính sách mới được áp dụng, kịp thời giúp người dân giảm thiểu được phần nào các khó khăn, nhất là những người yếu thế, người có thu nhập thấp, nhờ đó, an sinh xã hội được bảo đảm; an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

4.1. Dân số, lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội

- Dân số trung bình năm 2022 của tỉnh Vĩnh Phúc ước tính 1.197,6 nghìn người, tăng 5,8 nghìn người, tương đương mức tăng 0,49% so với năm 2021. tăng cao ở khu vực thành thị (tăng 3,64%). So với năm 2021, cơ cấu dân số chuyển dịch theo xu hướng tăng dân số khu vực thành thị, giảm dân số khu vực nông thôn: Dân số khu vực thành thị là 371,4 nghìn người, chiếm 31,01%; dân số khu vực nông thôn 826,2 nghìn người chiếm 68,99% (năm 2021 là 30,07% và 69,93%). Cơ cấu chia theo giới tính không có nhiều biến động: dân số nam 597,0 nghìn người, chiếm 49,85%; dân số nữ 600,6 nghìn người, chiếm 50,15% (năm 2021 là 49,84% và 50,16%).

- Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính có 583,9 nghìn người, tăng 0,94% so với năm 2021. Trong đó, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 575,5 nghìn người, tăng 5,5 nghìn người so với năm trước, chiếm 47,7% dân số.

- Công tác giải quyết lao động, việc làm: Ước tính năm 2022, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 19.730 lao động, bằng 116,1% so với kế hoạch và tăng 4% so với năm 2021.

- Công tác bảo đảm an sinh xã hội: Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2022 ước tính giảm còn 1,08% (giảm 0,43 điểm % so với năm 2021).

4.2. Giáo dục

Trong năm 2022, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm, chỉ đạo hoàn thiện các cơ chế, chính sách đầu tư cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo. Kỳ thi tuyển sinh vào các lớp đầu cấp THCS, tốt nghiệp THPT năm 2022 được tổ chức thành công, điểm trung bình các môn thi của tỉnh xếp thứ 2 toàn quốc, tỷ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh đạt 99,97%, cao nhất từ trước đến nay.

Chất lượng giáo dục mũi nhọn tăng cường, mở rộng với 3.276 học sinh giỏi cấp tỉnh; Kết quả kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia năm 2022 có 8 giải nhất, 18 giải nhì, 15 giải ba, 21 giải khuyến khích, tỷ lệ đạt giải là 67,4%, đứng thứ ba cả nước; đặc biệt tỉnh có 2 học sinh đạt huy chương đồng tại kỳ thi Olympic quốc tế.

4.3. Y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm

- Công tác phòng chống dịch Covid-19: Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 17/12/2022 số ca nhiễm COVID-19 trên địa bàn tỉnh là 367,6 nghìn ca. Tổng số trẻ đã được tiêm phòng là 147,8 nghìn trẻ (đạt 93,7% trẻ trong độ tuổi), trong đó có 111,3 nghìn trẻ đã được tiêm mũi 2 vắc xin.

- Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP): Năm 2022, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

4.4. Các hoạt động văn hoá và thể thao

Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao năm 2022 được tổ chức với nhiều sự kiện lớn quan trọng của đất nước và của tỉnh: Các chuỗi sự kiện kỷ niệm 25 năm tái lập tỉnh; Tổ chức thành công 2 môn Muay và Golf thuộc Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (Seagame 31); Các hoạt động trong khuôn khổ Đại hội thể dục thể thao các cấp; Đăng cai tổ chức cuộc thi Hoa hậu Du lịch Thế giới năm 2022; các hội diễn, triển lãm, các chương trình xúc tiến du lịch, quảng bá giới thiệu văn hóa, du lịch và con người Vĩnh Phúc được tổ chức với hiều hình thức phong phú, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Tỉnh.

4.5. Tình hình tai nạn giao thông, cháy nổ và bảo vệ môi trường

- Tai nạn giao thông: Tính đến ngày 15/12/2022, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 40 vụ tai nạn giao thông, làm 30 người chết và 25 người bị thương, so năm trước số vụ tai nạn giao thông đường bộ không thay đổi nhưng làm tăng 01 người chết.

- Cháy nổ: từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 29 vụ cháy bị thương 01 người, giá trị thiệt hại trên 2,9 tỷ đồng và 1.400m2 rừng.

- Công tác bảo vệ môi trường: Trong năm, các cơ quan chức năng phát hiện 446 vụ, xử lý 422 vụ, số tiền đã xử phạt 2.893,53 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm môi trường phát hiện tăng 375 vụ, số vụ đã xử lý tăng 372 vụ và số tiền xử phạt tăng 1.745,03 triệu đồng.

- Tình hình thiên tai: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 đợt mưa lớn gây thiệt hại cả về người và tài sản. Làm cho 07 người chết, 01 người bị thương; nhiều diện tích gieo trồng lúa, hoa màu, nuôi trồng thủy sản bị ngập lụt; kênh mương bị sạt lở; giá trị thiệt hại 883,3 tỷ đồng./.

Tải file Báo cáo :

2._bao_cao_ktxh_2022_vinh_phuc_26.12.docx

so_lieu_ktxh_nam_2022_tinh_vinh_phuc.xlsx

 

luat_sua_doi_ltk

Đang truy cập: 10
Trong ngày: 53
Trong tuần: 601
Lượt truy cập: 997789

Xin cho biết ý kiến của bạn về trang thông tin điện tử Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc?
Tốt
Khá
Trung bình
Kém

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH VĨNH PHÚC

Địa chỉ: Số 20 Lý Thái Tổ - Phường Đống Đa - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc

Điện thoại: 0211 3 861 139, Fax: 0211 3 843 841

Email: vinhphuc@gso.gov.vn, cuctk@vinhphuc.gov.vn